Nixon không phải là nạn nhân của 'nhà nước ngầm'.
Việc ông từ chức là điều tốt nhất cho người dân Mỹ và nhiệm kỳ tổng thống.

Richard Nixon tại Nhà Trắng vào ngày 16 tháng 8 năm 1973. Ảnh: Associated Press.
Bộ Tư pháp đang xem xét các cáo buộc về hành vi sai trái liên quan đến cuộc điều tra Watergate dẫn đến việc Richard Nixon từ chức. Dân biểu Riley Moore (Cộng hòa, Tây Virginia) gần đây tuyên bố vị tổng thống thứ 37 bằng cách nào đó đã bị "gài bẫy" bởi "nhà nước ngầm," và Phó Tổng thống JD Vance so sánh cách đối xử với Nixon với "những gì mà các nhóm người, cùng các tổ chức, đã cố gắng làm với Donald Trump." Những lập luận này là vô căn cứ. Bằng chứng cho thấy Nixon đã chủ mưu và che giấu các tội ác chống lại công dân Mỹ là không thể chối cãi, chúng nằm trong các bản ghi âm của Tòa Bạch Ốc và hàng ngàn trang phiên điều trần của Quốc hội.
Việc Nixon từ chức đã giúp duy trì các cơ chế kiểm soát và cân bằng, đồng thời cứu vãn một nhiệm kỳ tổng thống đang suy yếu nhanh chóng, thoát khỏi sự phẫn nộ của công chúng. Chỉ trong chưa đầy một thập kỷ sau đó, Ronald Reagan đã xây dựng lại niềm tin vào chức vụ tổng thống nhờ ông thừa nhận những sai lầm của Nixon và hứa sẽ trở nên tốt hơn. Nếu Reagan cố gắng biện minh cho những lạm dụng của Nixon, như một số người trong vòng tròn của ông Trump hiện đang làm, ông ấy sẽ trở nên đe dọa hơn với cử tri vào năm 1980, như Đảng Dân chủ đã hy vọng. Việc từ chức đã tạo điều kiện cho Reagan trở thành tổng thống.
Dưới bóng của một cuộc chiến tranh không được lòng dân ở Việt Nam, Nixon đã chỉ đạo chính quyền của mình theo dõi và quấy rối công dân Mỹ. Ông đã xử dụng nguồn lực của chính phủ để thuê một nhóm trộm đột nhập vào văn phòng của một bác sĩ tâm thần ở Los Angeles, và trụ sở của Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ, đặt tại khu phức hợp Watergate ở Washington. Tổng thống biết về những tội ác này và cố gắng che giấu chúng. Ông kêu gọi Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) dập tắt cuộc điều tra Watergate, cho phép chi trả tiền bịt miệng cho bọn trộm một cách bất hợp pháp và nhiều lần nói dối người dân Mỹ. Các bản ghi âm tại Tòa Bạch Ốc của chính ông, được Tòa án Tối cao công bố vào tháng 7 năm 1974, chứng minh ông đã lạm dụng quyền lực để che giấu các tội ác của Tòa Bạch Ốc.
Cố vấn Nhà Trắng John W. Dean III nói với cấp trên của mình, những hành vi phạm tội đó giống như một "khối u ác tính" đối với chức vụ tổng thống. Nhiều tháng đưa tin công khai và các phiên điều trần quốc hội được truyền hình đã khiến người Mỹ quay lưng lại với vị tổng thống tái đắc cử. Đến tháng 4 năm 1973, hơn 80% cho biết họ theo dõi vụ bê bối đang diễn ra, và 70% cho biết họ đang xem trực tiếp các phiên điều trần của Quốc hội. Khi nhiều chi tiết về tội ác và việc che giấu được hé lộ, bao gồm cả các cáo trạng đối với các trợ lý của Nixon, sự ủng hộ dành cho tổng thống giảm mạnh. Đến đầu tháng 8 năm 1974, chỉ có 24% người Mỹ tán thành thành tích của ông, và 57% bày tỏ mong muốn ông bị phế truất.
Khi Nixon từ chức vào ngày 9 tháng 8 theo lời khuyên của các thành viên Đảng Cộng hòa hàng đầu, vị thế tổng thống Mỹ đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ sau Thế chiến II. Người Mỹ không tin tưởng vào chức vụ này và ủng hộ nỗ lực của Quốc hội - trong một thập kỷ - nhằm hạn chế quyền lực tổng thống trong lĩnh vực gây chiến, tình báo bí mật, giám sát nội địa và kiểm soát Bộ Tư pháp. Đạo luật Đạo đức trong Chính phủ năm 1978 trao quyền cho một hội đồng gồm ba thẩm phán của Tòa phúc thẩm Hoa Kỳ, bổ nhiệm các công tố viên đặc biệt để điều tra các quan chức cấp cao của nhánh hành pháp, bao gồm cả tổng thống.
Hai tổng thống kế nhiệm Nixon, ông Gerald Ford và Jimmy Carter, đã bị suy yếu bởi các hạn chế mới đối với chức vụ này. Khi Reagan tranh cử năm 1980, ông hứa sẽ khôi phục một nhiệm kỳ tổng thống mạnh mẽ hơn, đặc biệt là ở nước ngoài, nhưng cũng cam kết tránh những lạm dụng của thời kỳ Nixon. Reagan tìm cách giảm ảnh hưởng của chính phủ trong cuộc sống của người dân, và hạn chế phạm vi ảnh hưởng trong nước của các quan chức được bầu. Ông bác bỏ ý tưởng về "đế chế tổng thống" và thay vào đó nhấn mạnh vào các giới hạn.
Đảng Dân chủ mô tả Reagan là nguy hiểm vì ông xử dụng ngôn từ khiêu khích để vận động chính sách đối ngoại mạnh mẽ, và cắt giảm mạnh các chương trình phúc lợi. Nhưng cử tri mong đợi ông vẫn tuân thủ luật pháp, một phần vì các biện pháp bảo vệ được áp đặt sau nhiệm kỳ tổng thống của Nixon. Reagan cẩn trọng giữ khoảng cách với những lạm dụng của Nixon, loại bỏ vị cựu lãnh đạo Đảng Cộng hòa này khỏi đại hội toàn quốc và các sự kiện vận động khác.
Reagan chấp nhận rằng tổng thống không thể giám sát và quấy rối công dân Mỹ như Nixon đã làm. Mặc dù vụ bê bối Iran-Contra cho thấy Tòa Bạch Ốc một lần nữa tìm cách né tránh các giới hạn của Quốc hội, vai trò của Reagan trong đó gần như là sự thờ ơ thụ động, chứ không phải là sự tham gia tích cực. Reagan cũng bác bỏ lối hành xử thiếu kềm chế của một tổng thống hay công kích các nhóm đối lập và hạ thấp những người mà mình không ưa. Reagan không có vẻ là kiểu người hay than phiền về người Do Thái, người da đen, người Mỹ gốc Ý và người Mỹ gốc Ireland như Nixon đã làm trong các bản ghi âm của Tòa Bạch Ốc.
Những người sáng lập hiểu rằng một tổng thống chỉ có thể lãnh đạo hiệu quả nếu người dân tin rằng ông tuân thủ và thực thi luật pháp. Người Mỹ muốn một tổng thống mạnh mẽ nhưng có kềm chế, không phạm tội hoặc che giấu tội ác ở trong nước. Cách tốt nhất để bảo đảm điều đó là chấp nhận bằng chứng về các hành vi lạm dụng trong quá khứ và hiện tại, đồng thời thực hiện các biện pháp ngăn chặn tái diễn. Những người Cộng hòa "trung thành" phủ nhận việc tổng thống vi phạm pháp luật - sẽ làm mất lòng cử tri và làm giảm ảnh hưởng của các tổng thống tương lai.
---------
_ Suri là giáo sư lịch sử và các vấn đề công tại Đại học Texas ở Austin.
_ Greenberg là giáo sư lịch sử, báo chí và nghiên cứu truyền thông tại Đại học Rutgers.
_ Trần H Sa lược dịch từ The Wall Street Journal.... 07/10/2026.