Khoa học và dữ liệu đang tái định hình quyền lực ở Biển Đông.

 

Nhân viên lực lượng tuần duyên Philippines
Nhân viên lực lượng tuần duyên Philippines quan sát các tàu tuần duyên Trung Quốc gần bãi Second Thomas Shoal, ngày 22 tháng 8 năm 2023. (Ảnh AP/Aaron Favila)

Tác giả James Borton và Jing Ge ....Ngày 2 tháng 10 năm 2026.... World Politics

Bất kỳ ai đang xem kho phim cũ của Netflix có thể đã tình cờ bắt gặp loạt phim "The Last Ship." Dựa trên tiểu thuyết cùng tên của William Brinkley, bộ phim theo chân thủy thủ đoàn của một tàu khu trục Hải quân Hoa Kỳ khi họ nổ lực tìm kiếm phương thuốc chữa trị một loại virus tàn khốc đã giết chết phần lớn dân số thế giới. Kỳ thứ 3 của series phim, phát sóng năm 2016, lấy bối cảnh một phần ở Biển Đông, đặt tuyến đường thủy tranh chấp này tại giao điểm giữa khoa học và quyền lực địa chính trị. Trong thế giới hư cấu của chương trình, kiến thức khoa học trở nên không thể tách rời cuộc đấu tranh sinh tồn và quyền lực.

Mặc dù "The Last Ship" rõ ràng là một sản phẩm của Hollywood, thực tế đang bắt đầu giống với ý tưởng của nó.

Trong nhiều thập kỷ, các quốc gia giáp với Biển Đông đã duy trì các tuyên bố tranh chấp và chồng lấn lãnh hải ở vùng biển của Biển Đông—và cả đáy biển nằm bên dưới. Yêu sách của Trung Quốc là cực đoan nhất, tuyên bố quyền lịch sử đối với khoảng 90% diện tích Biển Đông. Năm 2016, một hội đồng trọng tài đã xác định rằng khẳng định rộng lớn này không có cơ sở trong luật pháp quốc tế, nhưng Bắc Kinh đã kiên quyết bác bỏ phán quyết đó, và các rạn san hô và mỏm đá trên tuyến đường thủy vẫn tiếp tục bị tranh chấp quyết liệt.

Về căn bản, các câu hỏi xoay quanh Biển Đông rất đơn giản: Ai kiểm soát nó? Ai có thể hoạt động ở đó? Và áp dụng quy tắc của ai ? Các câu trả lời chủ yếu được nhìn nhận qua lăng kính quen thuộc của sức mạnh cứng: tàu chiến, tàu tuần duyên và các tiền đồn quân sự được xây dựng trên các đảo nhân tạo.

Những câu hỏi đó, cùng với lăng kính an ninh cho các câu trả lời, vẫn rất quan trọng. Nhưng chúng không còn đủ nữa.

Một cuộc thi âm thầm hơn đang diễn ra xoay quanh kiến thức về đại dương. Trung Quốc và các quốc gia tuyên bố chủ quyền khác đang xử dụng khảo sát sinh học biển đa dạng, vệ tinh viễn thám, phương tiện tự hành dưới nước và bản đồ đáy biển, để giám sát tình trạng sinh thái của Biển Đông. Trong quá trình đó, họ đang định hình cách các chính phủ định nghĩa thế nào là tác hại sinh thái và thiết lập các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Đây là cục diện địa chính trị mới nổi trong lĩnh vực quan sát đại dương: cuộc tranh giành nhằm thu thập và khai triển 
kiến thức khoa học về biển, theo những cách chuyển hóa thành quyền lực và tính hợp pháp.

Những hệ quả đã hiện rõ. Năm 2025, Trung Quốc đã công nhận đảo Hoàng Yến - được biết đến rộng rãi hơn với tên gọi Bãi cạn Scarborough - là khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia, trình bày việc này như một nỗ lực bảo vệ rạn san hô và đa dạng sinh học biển. Philippines, quốc gia lâu nay đã tuyên bố chủ quyền đối với mỏm đá này, đã bác bỏ việc chỉ định này của Trung Quốc, lập luận rằng Bắc Kinh không có thẩm quyền thiết lập và quản lý khu vực bảo vệ trong vùng biển tranh chấp.

Sự bất đồng này bề ngoài là vấn đề  bảo tồn, nhưng cốt lõi lại là về chủ quyền và sự quản trị. Ai có quyền xác định điều kiện sinh thái của một rạn san hô tranh chấp? Ai quyết định hoạt động nào đe dọa nó? Và ai có thẩm quyền điều chỉnh việc tiếp cận dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường?

Ở Biển Đông, hải dương học ngày càng trở thành công cụ thay thế cho quyền kiểm soát chủ quyền.

Cuộc thi Dữ liệu Đại dương.

Ý nghĩa của sự thay đổi này trở nên rõ ràng nhất khi các chính phủ nhìn vào cùng một vùng biển và báo cáo các thực tế khác nhau.

Hãy xem Sabina Shoal, nơi mà Trung Quốc gọi là Xianbin Jiao và Philippines gọi là Escoda Shoal. Vào tháng 6 năm 2024, nhà sinh vật học biển Jonathan Anticamara của Đại học Philippines đã mô tả tình trạng san hô bị hư hại nghiêm trọng tại vùng nước nông của bãi cạn này và gọi đó là một "thảm họa sinh thái". Chính phủ Philippines đã công bố kết quả của ông giữa lúc lo ngại ngày càng tăng về hoạt động của tàu thuyền Trung Quốc gia tăng trong khu vực.

Hai tháng sau, Bộ Tài nguyên Thiên nhiên Trung Quốc đã công bố đánh giá riêng. Dựa trên dữ liệu của vệ  tinh viễn thám  và các quan sát thực địa, các nhà nghiên cứu Trung Quốc mô tả hệ sinh thái rạn san hô này là "nhìn chung khỏe mạnh, với thiệt hại cục bộ," báo cáo cho thấy san hô có độ phủ tương đối cao và đa dạng sinh học, đồng thời thừa nhận các tác động tiêu cực từ hiện tượng nóng lên, các loài săn mồi, tảo và hoạt động của con người.

Một tàu tiếp tế của Philippines
Một tàu tiếp tế của Philippines đến BRP Sierra Madre tại Second Thomas Shoal, ngày 22 tháng 8 năm 2023. (Ảnh AP/Aaron Favila)

Hai bên có thể đã đi đến những kết luận khác nhau vì lý do khoa học chính đáng. Điều kiện san hô thay đổi tùy theo địa điểm, độ sâu và mùa của năm, trong khi các đánh giá có thể xử dụng các phương pháp lấy mẫu và tiêu chuẩn phân loại khác nhau.

Vấn đề lớn hơn là chính phủ và công chúng có rất ít quy trình chung để xác định lý do tại sao các đánh giá lại khác nhau. Các nhà nghiên cứu có đang kiểm tra cùng một phần của rạn san hô không? Họ có xử dụng các kỹ thuật lấy mẫu tương tự không? Có phải các quan sát được thực hiện trong cùng một mùa không? Họ có phân loại tỷ lệ chết và tẩy trắng san hô theo cùng một tiêu chuẩn không?

Nếu không có đủ thông tin phương pháp luận và dữ liệu so sánh, sự bất đồng khoa học nhanh chóng trở thành cuộc cạnh tranh về uy tín quốc gia.

Tình trạng tương tự xuất hiện quanh bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), cũng được Trung Quốc và Philippines tuyên bố chủ quyền. Vào tháng 7 năm 2024, các chuyên gia Trung Quốc đã đổ lỗi cho tàu chiến Philippines BRP Sierra Madre - vốn bị mắc cạn có chủ ý vào năm 1999 để tạo ra một tiền đồn quân sự tạm thời tại bãi cạn - đã gây thiệt hại cho hệ sinh thái rạn san hô chung quanh. Philippines bác bỏ cáo buộc này và kêu gọi một đánh giá khoa học độc lập của bên thứ ba.

Tất cả những điều này đang diễn ra khi khoa học quan sát đại dương thay đổi quy mô.

Dọc theo bờ biển đông nam Trung Quốc, Đại học Hạ Môn đã khai triển một mạng lưới quan sát gọi là T-Smart, nhằm giám sát một điểm nóng hàng hải khác: eo biển Đài Loan. Theo trang web của mình, T-Smart xử dụng nhiều hệ thống giám sát tự động, bao gồm drone, phao và tháp đo lưu lượng giao thông. Trước đây, việc thu thập dữ liệu khoa học đòi hỏi các chuyến thám hiểm có người lái, các hệ thống giám sát đa nền tảng, giờ đây cho phép giám sát 24/7 với ít sự can thiệp của con người.

Những năng lực này có ý nghĩa chính trị vì quan sát môi trường có thể khởi xướng cho một chuỗi quản trị. Các cuộc khảo sát và thu thập dữ liệu giúp xác định các hệ sinh thái cần bảo vệ. Điều đó đòi hỏi phải thiết lập các quy tắc và huy động nguồn lực để thực thi chúng.

Ví dụ, khi Bắc Kinh chỉ định Bãi cạn Scarborough là khu bảo tồn thiên nhiên vào năm 2025, một năm sau chính quyền Trung Quốc đã ban hành các quy định quản lý, bao gồm hạn chế đánh bắt cá và các hoạt động khác được cho là gây hại cho hệ sinh thái.

Không có gì bất thường khi chuyển từ nghiên cứu môi trường sang chính sách bảo tồn. Khó khăn địa chính trị phát sinh khi quyền tài phán bị tranh chấp.

Từ góc độ chính phủ thiết lập các quy định như vậy, hành động này có thể được mô tả như một hành động quản lý có trách nhiệm. Tuy nhiên, đối với một đối thủ yêu sách chủ quyền, biện pháp tương tự được xem như một nỗ lực mở rộng để kiểm soát hành chính thông qua quản trị môi trường.

Khả năng của Trung Quốc trong việc này được phản ảnh bởi cơ sở hạ tầng khoa học rộng lớn hơn nhiều, và năng lực nhà nước cao hơn so với Philippines. Theo sách trắng năm 2024 về bảo vệ môi trường biển, Trung Quốc vận hành khoảng 1.359 địa điểm kiểm tra chất lượng nước biển do nhà nước giám sát, tại các vùng biển mà họ coi là thuộc quyền tài phán của mình, bao gồm cả Biển Đông. Đây là một cách tiếp cận rộng lớn và có hệ thống hơn nhiều so với Philippines, nơi chỉ thỉnh thoảng thực hiện các đánh giá do nhà nước tài trợ và học thuật—như báo cáo đã đề cập từ Đại học Philippines - nhưng không thể cạnh tranh với quy mô như Trung Quốc.

Hợp tác khi thiếu sự thống nhất về dữ liệu thực tế

Tất nhiên, giám sát hải dương học không nhất thiết phải chỉ xoay quanh cạnh tranh. Các chính phủ của các quốc gia tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông - bao gồm Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Đài Loan và Brunei, cùng với Trung Quốc và Philippines - đã từng thử nghiệm hợp tác khoa học trong quá khứ.

Bắt đầu từ những năm 1990, Philippines và Việt Nam đã khởi xướng một sáng kiến gọi là Các chuyến thám hiểm chung Nghiên cứu Hải dương học và Khoa học Biển , hay JOMSRE. Các nhà khoa học thu thập dữ liệu theo các thỏa thuận được soạn thảo rõ ràng "không ảnh hưởng" đến việc cuối cùng giải quyết tranh chấp chủ quyền . Bốn chuyến thám hiểm đã hoàn thành trước khi chương trình kết thúc vào năm 2007.

Loại khoa học này có giới hạn của nó. Một chuyến du thuyền nghiên cứu kéo dài 10 hoặc 15 ngày có thể cung cấp những cái nhìn quý giá nhưng không thể thiết lập hồ sơ liên tục, chuẩn hóa cần thiết để xác định những thay đổi lâu dài về sức khỏe san hô, nguồn cá, nhiệt độ nước và mức độ ô nhiễm. Tuy nhiên, JOMSRE đã chứng minh rằng các quốc gia không cần phải giải quyết các bất đồng lãnh thổ trước khi các nhà khoa học của họ có thể hợp tác với nhau.

Tiến sĩ Yu Weidong, nhà khoa học đại dương tại Đại học Tôn Trung Sơn ở đô thị Quảng Châu phía nam Trung Quốc, cho biết ông đã làm việc với các nhà khoa học từ các nước láng giềng, bao gồm Indonesia, Myanmar, Thái Lan, Philippines và Việt Nam, để giám sát tình huống gió mùa dưới sự bảo trợ của Ủy ban Hải dương học Liên chính phủ về Tây Thái Bình Dương thuộc UNESCO .

Trung Quốc có lợi ích trong việc cho phép các sáng kiến như vậy tiếp tục, do cần hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu và sự suy thoái hệ sinh thái. Và hợp tác khoa học có thể mang lại lợi ích công thực sự. Tuy nhiên, sự chênh lệch về năng lực nghiên cứu vẫn có thể tạo ra sự bất đối xứng, giúp các quốc gia lớn như Trung Quốc có ảnh hưởng lớn hơn trong cách hiểu các vấn đề biển.

Hơn nữa, các quốc gia dễ dàng trao đổi thông tin hải dương học khi lợi ích đã rõ ràng và dữ liệu đó không dễ bị chuyển hóa thành lợi thế về mặt quyền tài phán. Nhưng sự hợp tác trở nên khó khăn hơn khi an ninh được đặt vào vai trò quan trọng. Dữ liệu về điều kiện đáy biển và dòng chảy dưới nước, ví dụ, có ứng dụng cả khoa học lẫn quân sự.

Do đó, việc yêu cầu mọi chính phủ công khai mọi thông tin hải dương học mà họ phát triển là không thực tế. Mục tiêu thực tiễn hơn là làm cho bằng chứng môi trường đủ minh bạch sao cho các chính phủ không thể viện dẫn uy tín khoa học để biện minh cho những biện pháp có tác động lớn mà không cho phép các bên khác xem xét cơ sở của những tuyên bố đó.

Quy tắc chung cho một vùng Biển Tranh chấp.

Để bảo đảm môi trường biển được giám sát và bảo vệ chặt chẽ, mà không tạo ra các "sự đã rồi trên thực địa" ảnh hưởng đến các yêu sách cạnh tranh, Biển Đông không cần thêm một thỏa thuận lớn nào phụ thuộc vào việc giải quyết chủ quyền. Nó cần các quy tắc thủ tục để tạo ra kiến thức môi trường đáng tin cậy, trong khi chủ quyền vẫn còn bị tranh cãi.

Thứ nhất, các yêu cầu môi trường lớn cần có tiêu chuẩn chứng cứ tối thiểu. Nếu một chính phủ cáo buộc có thiệt hại sinh thái nghiêm trọng hoặc thiết lập một khu vực bảo vệ trong vùng biển tranh chãi, họ nên có nghĩa vụ tiết lộ thông tin căn bản: ai đã tiến hành đánh giá, phạm vi địa lý của nghiên cứu là bao nhiêu, các phương pháp chính là gì, và những điểm không chắc chắn chính của các phát hiện.

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, hay UNCLOS, cung cấp một mô hình thủ tục hữu ích. Các Điều 248 và 249 thiết lập các yêu cầu liên quan đến thông tin về các dự án nghiên cứu khoa học biển, và kỳ vọng liên quan đến việc tham gia và truy cập kết quả cũng như dữ liệu. Những quy định đó không tự động điều chỉnh mọi đánh giá sinh thái trong vùng biển tranh cãi, nhưng chúng thiết lập một nguyên tắc quan trọng: Khoa học hệ quả nên đi kèm với đủ thông tin để người khác hiểu cách các kết luận được đưa ra.

Thứ hai, khi có thể, chính phủ nên cung cấp các bộ dữ liệu không nhạy cảm cho các nhà khoa học từ các quốc gia khác.

Mục đích không phải là ép buộc một cách hiểu duy nhất, mà là để các bất đồng có thể truy nguyên được. Nếu các nhà khoa học xem xét cùng một dữ liệu mà đi đến các kết luận khác nhau, họ sẽ có thể xác định liệu sự khác biệt đó là do lấy mẫu, phân loại, mô hình hóa giả định hay diễn giải.

Chính sách dữ liệu của Ủy ban Hải dương học Quốc tế UNESCO kêu gọi dữ liệu đại dương được kiểm soát chất lượng, được hỗ trợ bởi các tiêu chuẩn được tài liệu hóa và siêu dữ liệu đầy đủ, trong khi Hệ thống Thực hành Tốt nhất Đại dương do Liên Hợp Quốc hậu thuẫn thúc đẩy các phương pháp chung giúp các quan sát trở nên so sánh và có thể tái lập hơn.

Thứ ba, hợp tác khoa học cần một bức tường lửa chủ quyền. Việc tham gia một cuộc khảo sát chung không nên được hiểu là công nhận chủ quyền của một bên yêu sách khác. Việc cung cấp dữ liệu sinh thái cũng không nên đồng nghĩa với việc chấp nhận quyền tài phán của chính phủ khác.

Một tàu nghiên cứu đa chức năng hoạt động ở vùng biển sâu của Trung Quốc cập cảng Tam Ya
Một tàu nghiên cứu đa chức năng hoạt động ở vùng biển sâu của Trung Quốc cập cảng Tam Ya, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc, ngày 29 tháng 12 năm 2024. (Zhang Yuehe/China News Service/VCG qua AP)

Nguyên tắc này cũng đã được tích hợp trong luật pháp quốc tế: Điều 241 của UNCLOS quy định rằng các hoạt động nghiên cứu khoa học biển không tự nó là cơ sở pháp lý cho các yêu sách đối với bất kỳ phần nào của môi trường biển hoặc tài nguyên của nó.

Cuối cùng, hợp tác nên bắt đầu ở nơi cái giá phải trả cho chính trị thấp nhất và lợi ích thực tiễn cao nhất. Dự báo bão và sóng thần, giám sát đợt nắng nóng trên biển, cảnh báo hiện tượng san hô bị tẩy trắng và các chỉ số đa dạng sinh học được chọn lọc mang lại những khả năng rõ ràng. Thay vì bắt đầu bằng các cuộc khảo sát mang tính chính trị về các đặc điểm tranh chấp, các chính phủ có thể xây dựng các mạng lưới thường xuyên bằng cách tiến hành các quan sát tương tự năm này qua năm khác.

Trung Quốc đã tổ chức các khóa đào tạo về nghiên cứu khoa học biển ở Biển Đông theo Tuyên bố về Hành vi của các bên. Bước tiếp theo khó khăn hơn là chuyển từ đào tạo các nhà khoa học và chia xẻ các sản phẩm kỹ thuật được chọn sang các quy trình chung để quản lý bằng chứng liên quan đến tranh chấp chính trị.

Thử thách đối với Trung Quốc.

Trung Quốc sở hữu năng lực khoa học và công nghệ lớn nhất khu vực, và đang dần mở rộng khả năng quan sát môi trường biển. Điều đó tạo cơ hội cho Bắc Kinh cung cấp các hàng hóa công mà các quốc gia Đông Nam Á nhỏ hơn không thể dễ dàng cung cấp một mình. Dự báo bão tốt hơn, cảnh báo san hô bị tẩy trắng, sản phẩm viễn thám, đào tạo phòng thí nghiệm và các bộ dữ liệu môi trường dài hạn có thể tăng cường khả năng chống chịu của khu vực.

Bắc Kinh cũng có lý do sinh thái và kinh tế để hỗ trợ quản trị đại dương ổn định. An ninh lương thực của nước này phụ thuộc một phần vào nghề cá và các nguồn tài nguyên biển khác; các nhà khoa học của họ ngày càng quan tâm đến nghiên cứu biển sâu và đa dạng sinh học; và các đội tàu thương mại, nghiên cứu của họ ngày càng hoạt động xa bờ.

Do đó, quốc gia quyền lực nhất châu Á có lợi ích trong việc chứng minh rằng quyền lực khoa học của họ chịu sự điều chỉnh của các thủ tục hạn chế quyền tự quyết của chính họ. Điều đó có nghĩa là công khai các phương pháp căn bản, cho phép các nhà khoa học bên ngoài xem xét một số dữ liệu không nhạy cảm được chọn, và tách biệt mục tiêu sinh thái khỏi các tuyên bố về chủ quyền.

Trung Quốc cũng có thể củng cố các phòng thí nghiệm và mạng lưới giám sát trên khắp Đông Nam Á - không chỉ bằng cách đưa ra kết luận, mà còn giúp các nước láng giềng phát triển năng lực tạo ra và đánh giá độc lập bằng chứng môi trường.

Các tiêu chuẩn tương tự cũng nên áp dụng cho các đối tượng yêu cầu khác. Philippines, Việt Nam, Malaysia và các chính phủ khác nên áp dụng các phương pháp minh bạch và giám sát độc lập đối với các yêu cầu môi trường lớn, bao gồm cả hậu quả môi trường của việc khai hoang, hoạt động đánh bắt, ô nhiễm và quản lý các khu bảo tồn của họ.

Mức độ quan trọng vượt ra ngoài Biển Đông.

Thỏa thuận của Liên Hợp Quốc về đa dạng sinh học biển tại các vùng nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia, thường được gọi là Hiệp ước Biển Quốc tế, đã có hiệu lực từ tháng Giêng. Nó tạo ra các quy trình quốc tế liên quan đến các khu bảo tồn biển, đánh giá tác động môi trường, tài nguyên di truyền biển, xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển.

Mặc dù thỏa thuận điều chỉnh các khu vực ngoài quyền tài phán quốc gia, và không thể giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, nó phản ánh một sự chuyển đổi lớn hơn: Các quyết định về môi trường ngày càng phụ thuộc vào việc sản xuất, lưu thông và đánh giá thông tin khoa học.

Trung Quốc đã phê chuẩn thỏa thuận vào tháng 12 năm 2025 và tuyên bố việc thực thi không được làm tổn hại đến chủ quyền, quyền chủ quyền, thẩm quyền tài phán hoặc tranh chấp hàng hải. Nó cũng đã đề nghị đăng cai đặt trụ sở  ban thư ký của hiệp ước trong tương lai.

Nhưng việc ký kết một hiệp ước chỉ là khởi đầu. Vai trò lãnh đạo trong quản trị đại dương cuối cùng phụ thuộc vào thực tiễn.

Một quốc gia tìm kiếm quyền lực lớn hơn trong các tổ chức đại dương toàn cầu sẽ không chỉ được đánh giá qua quy mô đội tàu nghiên cứu hay số lượng khu bảo vệ. Nó cũng sẽ được đánh giá dựa trên việc các quốc gia khác có tin tưởng vào bằng chứng mà họ cung cấp hay không, liệu các thủ tục đằng sau các tuyên bố môi trường của họ có minh bạch hay không, và liệu các quy tắc mà họ đề xuất có áp dụng cho các hoạt động của chính họ hay không.

Các quốc gia tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông không cần phải giải quyết tranh chấp chủ quyền trước khi thống nhất cách thức cùng nhau tiến hành nghiên cứu hải dương học. Nhưng nếu mỗi chính phủ đều khăng khăng rằng chỉ các khảo sát của mình mới đáng tin cậy, các báo cáo môi trường và các biện pháp bảo tồn sẽ trở thành những đấu trường mới cho sự cạnh tranh trên biển.

----------------
_ James Borton là nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại Viện Chính sách Đối ngoại SAIS Johns Hopkins và là tác giả của "Thu hoạch sóng: Cách các công viên xanh định hình chính sách, chính trị và xây dựng hòa bình ở Biển Đông."

_ Jing Ge là nghiên cứu sinh tiến sĩ về quan hệ quốc tế và giảng viên tại Đại học Quốc tế Florida. Nghiên cứu của bà tập trung vào quản trị đại dương, chính trị hàng hải và cạnh tranh địa chính trị ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.

_ Trần H Sa lược dịch từ World Politic Review.... 03/10/2026.