Tại sao Hoa Kỳ liên tục thua trong các cuộc chiến tranh.

 Washington có một lịch sử lâu dài trong việc tiến hành những cuộc chiến sai lầm vì những mục tiêu sai lầm.


Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush
Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush tuyên bố kết thúc các hoạt động chiến đấu quan trọng tại Iraq trên tàu USS Abraham Lincoln vào ngày 1 tháng 5 năm 2023. Ảnh AP/J. Scott Applewhite

Tác giả Stephen M. Walt....Ngày 5 tháng 8 năm 2026. ... Foreign Policy.

Nếu bạn là người Mỹ, thì có lẽ bạn đang quá mệt mỏi với việc bị thua trong các cuộc chiến. Tôi biết mình đang như vậy. Và bạn có thể tự hỏi, "Tại sao chuyện này cứ lặp đi lặp lại?" Đó là một câu đố vừa thú vị vừa làm nản lòng: Mặc dù Hoa Kỳ đã là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới trong nhiều thập kỷ, với một quân đội có ngân sách và năng lực  không ai sánh kịp, nước này đã có thành tích gần như thất bại trong lịch sử gần đây. Điều này bao gồm cả cuộc chiến hiện tại với Iran, vốn vẫn chưa đạt được bất kỳ mục tiêu nào mà chính quyền Trump đã tuyên bố và có khả năng kết thúc ở vị thế chiến lược mạnh hơn đáng kể so với Iran.

Xem danh sách đi. Chiến tranh Triều Tiên là một trận hòa (sẽ nói thêm về điều này sau). Việt Nam là một thất bại rõ ràng, cũng như Chiến tranh Iraq năm 2003 và "cuộc chiến mãi mãi" ở Afghanistan. Chiến tranh Kosovo năm 1999 không phải là một chiến thắng, khi Serbia nhận được các điều khoản tốt hơn vào cuối chiến tranh so với trước khi chiến sự bắt đầu. Trừ khi bạn tính cả việc chiếm đóng quốc đảo nhỏ Grenada năm 1983 (một sự chênh lệch nghiêm trọng khó mà có giá trị), thì chiến thắng rõ ràng duy nhất của Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ qua là Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Vâng, tôi biết: Hoa Kỳ và các đồng minh thực sự đã "chiến thắng" trong Chiến tranh Lạnh – một trường hợp ngoại lệ giúp khẳng định quy luật, bởi lẽ đây là một cuộc "chiến tranh" chưa từng chứng kiến ​​sự đụng độ vũ trang trực tiếp với Liên Xô.

Tại sao Hoa Kỳ lại có kết quả kém như vậy? Chắc chắn không phải do thiếu tiền, xét đến quy mô ngân sách quốc phòng Hoa Kỳ và sự sẵn sàng của Quốc hội trong việc bỏ phiếu bổ sung bất cứ khi nào được yêu cầu. Không phải là do thiếu hỏa lực, vì Hoa Kỳ vẫn rất giỏi trong việc phá hủy mọi thứ, ngay cả ở khoảng cách khá xa so với bờ biển của Mỹ. Năng lực đó có thể đang phần nào suy giảm vào thời điểm hiện tại, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã phung phí nguồn cung tên lửa tiên tiến của nước này trong cuộc chiến ngu ngốc với Iran, nhưng yếu tố này không giải thích tại sao chiến thắng lại khó nắm bắt. Không phải do lực lượng vũ trang Hoa Kỳ thiếu lòng dũng cảm, vốn vẫn sẵn sàng đặt mình vào nguy hiểm, thường là một cách anh hùng. Và chắc chắn không phải vì quân đội Mỹ thiếu hormon testosterone (nam tính), bất kể vị Bộ trưởng Quốc phòng (chuyên thua trận) kém cỏi của chúng ta có nghĩ gì đi nữa.

Thay vào đó, những lý do thực sự khiến Hoa Kỳ liên tục thua trong các cuộc chiến lại là mang tính chiến lược và cấu trúc. Đất nước này đã tiến hành các cuộc chiến lựa chọn kết hợp lợi ích khiêm tốn của Hoa Kỳ với các mục tiêu cực kỳ tham vọng, chẳng hạn như cố gắng tái tạo một xã hội của nước ngoài theo hình ảnh Hoa Kỳ. Kết quả là các đối thủ thường quyết tâm cao hơn Washington rất nhiều, vì họ có nhiều rủi ro hơn. Họ đang chiến đấu để tồn tại hoặc ít nhất là bảo vệ độc lập và quyền tự trị, trong khi ở hầu hết các trường hợp, Hoa Kỳ đang chiến đấu để đạt được những mục tiêu có thể được cho là mong muốn, nhưng cuối cùng không quá quan trọng. Trong tình huống này, có thể dự đoán rằng các đối thủ sẽ sẵn sàng hy sinh hơn Hoa Kỳ rất nhiều. Như trong hầu hết các cuộc xung đột bất đối xứng, bên yếu hơn chiến thắng không phải bằng chiến thắng tuyệt đối trên chiến trường, mà bằng cách không thua và chờ đợi thế lực mạnh hơn nhận ra rằng đổ thêm binh lính và tiền bạc vào một vũng lầy là điều không đáng.

Công thức đơn giản này cho chúng ta biết rất nhiều về tất cả các cuộc chiến gần đây. Hoa Kỳ đã bảo vệ những lợi ích quan trọng trên bán đảo Triều Tiên, bởi vì một chiến thắng trọn vẹn của phe Cộng sản tại đây có thể tác động mạnh mẽ đến cục diện Chiến tranh Lạnh ở châu Á. Nhưng Trung Quốc coi nỗ lực thống nhất bán đảo này của Mỹ là mối đe dọa sống còn, và cuối cùng đã hy sinh ít nhất 200.000 binh sĩ (và có thể còn nhiều hơn thế) để ngăn chặn kết quả đó. Sau ba năm chiến đấu cay đắng, kết quả về căn bản là hòa.

Tại Việt Nam, Hoa Kỳ phải đối mặt với chủ nghĩa dân tộc dữ dội của phong trào Cộng sản Việt Nam, một lực lượng từng đánh bại thực dân Pháp và tỏ ra không thể bị dập tắt. Mặc dù  trong một thời gian các nhà lãnh đạo Mỹ đã thuyết phục được người Mỹ rằng ngăn chặn chiến thắng của Cộng sản là một lợi ích sống còn—chủ yếu bằng cách viện dẫn nỗi sợ quá mức về hiệu ứng domino và nguy cơ mất uy tín— cuối cùng, công chúng đã quay lưng lại với cuộc chiến dường như bât tận này, buộc Mỹ rút quân và cuối cùng mở đường cho chiến thắng  của Hà Nội.

Kịch bản tương tự cũng dẫn đến những kết cục đáng buồn tại Iraq và Afghanistan. Saddam Hussein là một kẻ thường xuyên gây rối, nhưng ông ta đã bị kiểm soát vào năm 2003, các chương trình vũ khí của y bị tháo dỡ, và y không hề tham gia vào các vụ tấn công khủng bố 11/9. Lật đổ Saddam Hussein không phải là lợi ích sống còn của Mỹ, bất kể những người theo chủ nghĩa tân bảo thủ Mỹ mơ về việc biến Trung Đông thành một khu vực tràn ngập các nền dân chủ thân Mỹ. Việc loại bỏ Saddam diễn ra rất dễ dàng (điều này cho thấy ông ta thực sự không gây nguy hiểm), nhưng lực lượng chiếm đóng nhanh chóng phải đối mặt với một cuộc nổi dậy mạnh mẽ chống lại sự thống trị của nước ngoài và được hỗ trợ bởi cả Iran và Syria, vốn không muốn trở thành mục tiêu tiếp theo trong danh sách tấn công của Washington. Một cuộc chiến tranh tham vọng khác lại trở thành một thất bại tốn kém. Nghe có quen không?

Ở Afghanistan, sự kết hợp giữa sự ngu dốt, chủ nghĩa lý tưởng và tầm quan trọng từ chiến lược hạn chế cuối cùng đã khiến nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở đó thất bại. Washington có lý do chính đáng để truy đuổi Osama bin Laden và các chủ nhà Taliban của ông ta, nhưng việc ở lại đó để biến Afghanistan thành một nền dân chủ kiểu phương Tây đã kích hoạt sự phản kháng quyết liệt từ một xã hội hoàn toàn xứng đáng với danh tiếng là "nghĩa địa của các đế chế." Cuối cùng, những kẻ nổi dậy quan tâm đến việc đưa Hoa Kỳ ra khỏi nước, hơn là việc đánh bại Mỹ — nếu điều đó còn khả thi—và cuối cùng Trump, trong nhiệm kỳ đầu tiên, rồi Tổng thống Mỹ Joe Biden, đã chấm dứt cuộc xung đột vốn từ lâu đã là một nỗ lực vô nghĩa .

Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 là một ngoại lệ rõ ràng đối với thành tích không ấn tượng của Washington. Nói một cách chính xác, đây cũng là một "cuộc chiến lựa chọn," vì Hoa Kỳ có thể để Iraq giữ Kuwait mà không phải đối mặt với bất kỳ mối đe dọa tức thời nào, đối với an ninh của chính mình.Tuy nhiên, về lâu dài, việc Iraq kiểm soát Kuwait cùng nguồn thu từ dầu mỏ của nước này có thể làm thay đổi cán cân quyền lực tại vùng Vịnh theo chiều hướng đáng lo ngại; đồng thời, chính quyền George H.W. Bush lo ngại rằng việc để cho một hành động xâm lược trắng trợn như vậy thành công có thể tạo ra một tiền lệ nguy hiểm. Nhưng trong trường hợp này, quan trọng hơn cả là mục tiêu của Mỹ hoàn toàn phù hợp với lợi ích của Mỹ. Hoa Kỳ và các đồng minh đã trục xuất Iraq khỏi Kuwait, làm suy yếu sức mạnh quân sự của Iraq, và áp đặt các cuộc thanh sát gắt gao của Liên Hợp Quốc nhằm triệt tiêu các chương trình vũ khí của nước này. Tuy nhiên, Tổng thống George H.W. Bush đã sáng suốt khi quyết định không "tiến vào Baghdad" để lật đổ chế độ; lý do là hành động đó không chỉ vượt quá phạm vi ủy quyền của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc mà còn buộc Mỹ phải chiếm đóng và cai trị một xã hội đang bị chia rẽ và đầy rẫy sự oán hận. Nhờ việc các mục tiêu của Mỹ hoàn toàn phù hợp với lợi ích quốc gia và Tổng thống Bush đã kết thúc chiến tranh một cách dứt khoát, cuộc chiến này được đánh giá đúng đắn là một thắng lợi vang dội.

Tuy nhiên, không dễ để một siêu cường thống nhất lợi ích và mục tiêu của mình. Bởi vì Hoa Kỳ quá mạnh mẽ và xét về khách quan thì rất an toàn, nên sẽ hiếm có những cuộc xung đột đe dọa đến các lợi ích thực sự sống còn—những tình huống mà việc chấp nhận hy sinh to lớn (như người Mỹ từng làm trong Thế chiến II) có thể dễ dàng được biện minh. Đồng thời, sức mạnh và sự vượt trội công nghệ của Mỹ cũng khiến việc can thiệp ở nhiều nơi trở nên dễ dàng và các nhà hoạch định chính sách tự thuyết phục mình rằng những cuộc xung đột này sẽ dễ dàng giành chiến thắng.  Tóm lại, vấn đề không phải là Hoa Kỳ kém trong việc chiến đấu. Vấn đề là nước này thường tham gia vào những cuộc chiến sai lầm vì những mục tiêu sai lầm; điều này làm suy giảm niềm tin của các đồng minh vào khả năng phán đoán của Hoa Kỳ, đồng thời gây khó khăn cho việc cạnh tranh với những đối thủ thực sự như Trung Quốc.

Tại sao điều này vẫn tiếp tục xảy ra, ngay cả dưới thời một tổng thống tuyên bố phản đối chiến tranh vĩnh viễn và khăng khăng rằng mình là "ứng viên hòa bình"? Có nhiều lý do, nhưng một trong số đó là sự do dự liên tục của giới tinh hoa đối ngoại Mỹ trong việc tự chịu trách nhiệm, và rút ra bài học từ những sai lầm trong quá khứ. Một minh họa hoàn hảo cho vấn đề này có thể được tìm thấy trong cuộc phỏng vấn gần đây của Robert Kagan với Responsible Statecraft. Công bằng mà nói, Kagan đã công khai chỉ trích cuộc chiến của Trump với Iran, nhưng ông vẫn kiên định ủng hộ đường lối đối ngoại cứng rắn và từng là một trong những người lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ nhất cho cuộc chiến tranh Iraq năm 2003. Khi được hỏi liệu cuộc chiến đó có phải là một sai lầm hay không, ông đáp: "Tôi không chắc việc thừa nhận đó là sai lầm thì có ích lợi gì. Nó đâu thể làm ai sống lại được." Ông nói thêm rằng điều khiến ông hối tiếc nhất là cuộc chiến đó đã làm giảm sự ủng hộ của công chúng đối với chính sách đối ngoại can thiệp mà ông tán thành.

Chừng nào tâm lý ngại thừa nhận sai lầm và né tránh trách nhiệm vẫn còn phổ biến trong giới hoạch định chính sách đối ngoại—bao gồm cả phần lớn phe MAGA hiện nay—thì người dân Mỹ sẽ phải tập làm quen với sự thất vọng.

-----------------
_ Tác giả Stephen M. Walt, là cây bút bình luận của tạp chí Foreign Policy và là Giáo sư Quan hệ Quốc tế (giữ ghế Robert và Renée Belfer) tại Đại học Harvard.
_ Trần H Sa lược dịch từ Foreign Policy.... 07/8/2026.