Liệu các căn cứ rộng lớn của Mỹ ở vùng Vịnh có đáng để xây dựng lại hay không

 Các cuộc tấn công của Iran đã phơi bày sự dễ bị tổn thương của dấu chân quân sự Mỹ trải dài trong khu vực từ những năm 1990.

Tổng thống Donald Trump
Tổng thống Donald Trump thăm quân đội tại một căn cứ Mỹ ở Doha, Qatar © Brendan Smialowski/AFP/Getty Images

Tác giả Jacob Judah tại London... 23/8/2026..... Financial Times.

Gần bốn thập kỷ qua, sự hiện diện của Mỹ ở Trung Đông được neo giữ bởi một chuỗi các căn cứ rộng lớn, trải dài khắp vùng Vịnh. Nhưng trong sáu tháng chiến tranh, Iran đã đặt tương lai của chúng vào thế bị nghi ngờ.

Tehran - nơi đã tấn công các cơ sở của Mỹ bằng tên lửa tầm ngắn và máy bay không người lái - đã  nhanh chóng phơi bày mức độ dễ tổn thương của các cơ sở rộng lớn khi chúng được đặt gần bờ biển Iran. Cộng hòa Hồi giáo buộc Washington phải di chuyển binh lính và máy bay ra khỏi tầm với của Iran, đưa đến Israel, Jordan và xa hơn nữa.

Washington đã có quyền tiếp cận các căn cứ ở mọi quốc gia quan trọng tại vùng Vịnh trong hơn ba thập kỷ. Giờ đây, họ sẽ phải quyết định có nên chi hàng tỷ đô la để xây dựng lại các cơ sở đó hay suy nghĩ lại về dấu ấn quân sự của mình ở Trung Đông cho một kỷ nguyên mới.

Hal Brands, một học giả tại Đại học Johns Hopkins, cho biết,  "Những cơ sở đó, đặc biệt là các căn cứ lớn, rất dễ bị tổn thương. Chúng ta sẽ chứng kiến ​​sự điều chỉnh lại thế trận quân sự của Mỹ, chuyển trọng tâm ra khỏi khu vực Vịnh Ba Tư. Trọng tâm sẽ được chuyển dịch khỏi các căn cứ nằm trong tầm bắn của tên lửa tầm ngắn và máy bay không người lái."

Khi các nhà hoạch định tại Ngũ Giác đài tái hình dung cách chiến đấu chống lại các đối thủ sở hữu năng lực quân sự tiên tiến, các căn cứ lớn và cố định đang dần mất đi vị thế như là  trung tâm tập kết và tiếp tế cho các hoạt động quân sự. Ưu tiên của Washington là chuyển sang mô hình khai triển phân tán hơn, khiến việc nhắm mục tiêu vào lực lượng Mỹ trở nên khó khăn hơn.

một cuộc không kích của Iran tấn công một căn cứ Mỹ ở Bahrain
Hình ảnh trên mạng xã hội về một cuộc không kích của Iran tấn công một căn cứ Mỹ ở Bahrain vào tháng Hai © UGC/Không rõ/AFP/Getty Images

Điều này đã thúc đẩy các lời kêu gọi từ lâu về việc giảm quy mô dấu chân quân sự của Mỹ ở vùng Vịnh — khu vực vốn là biểu tượng quân sự cho thỏa thuận "đổi dầu lấy an ninh" được thiết lập từ trước, giữa Washington và các đồng minh trong vùng. 

Gần đây hơn, Bộ Tư lệnh Trung tâm, cơ quan giám sát các hoạt động của Mỹ ở Trung Đông, đã thử nghiệm việc phân tán binh lính sang các tiền đồn chiến đấu nhỏ hơn, đồng thời nhanh chóng luân chuyển máy bay chiến đấu giữa các đường băng tạm thời.

Dana Stroul, cựu phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ phụ trách Trung Đông, cho biết, "Chúng ta có thể làm điều gì đó linh hoạt và cơ động hơn," bà cũng lưu ý việc thiết kế lộ thiên các căn cứ vùng Vịnh là một hệ thống cũ kỹ không phù hợp với các cuộc xung đột hiện đại. "Những ai từng nỗ lực vận động để Mỹ rút khỏi các căn cứ đó giờ đây sẽ cảm thấy quan điểm của mình được chứng minh là đúng đắn," bà nói thêm.

Một trong những mối lo ngại về các căn cứ ở vùng Vịnh là việc phần lớn cơ sở hạ tầng vẫn nằm lộ thiên trên mặt đất. Iran đã tấn công các nhà chứa máy bay, hạ tầng tiếp tế và radar, cũng như các cứ điểm chỉ huy và kiểm soát trong suốt cuộc chiến. Điều này đã buộc Đệ Ngũ Hạm đội phải xử dụng Diego Garcia (nằm ở trung tâm Ấn Độ Dương), một hòn đảo xa xôi, làm trung tâm tiếp tế thay thế cho trụ sở bị hư hại ở Bahrain.

Nate Swanson, cựu giám đốc phụ trách vấn đề Iran tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, cho biết, "Việc xây dựng lại một số địa điểm này không mang lại nhiều lợi ích". Ông lưu ý rằng việc chi ngân sách để tái thiết những cơ sở vốn không còn được ưu tiên xử dụng có thể đẩy nhanh các xu hướng hiện có. “Tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu không có sự dịch chuyển lực lượng về phía tây.”

Diego Garcia, Quần đảo Chagos
Diego Garcia, Quần đảo Chagos.... | Hạm đội thứ Năm của Mỹ đã sử dụng Diego Garcia, ở quần đảo Chagos, làm trung tâm tiếp tế thay thế sau khi Iran tấn công các căn cứ ở Vịnh © Planet Labs

Hồi tháng Tư , viện Doanh nghiệp Mỹ, một viện nghiên cứu tại Washington, ước tính chi phí sửa chữa thiệt hại tại 11 căn cứ Mỹ trải rộng trên bảy quốc gia Trung Đông  là khoảng 5 tỷ đô la. Ngũ Giác đài  chưa đưa các chi phí tái thiết này vào ước tính chi phí của họ cho cuộc chiến Iran.

Trong sáu tháng chiến tranh vừa qua, Mỹ đã chuyển quân sang Israel và Jordan  Họ cũng đã khai triển máy bay và drone từ các căn cứ ở châu Âu. Tất cả đều nằm ngoài tầm với của tên lửa và máy bay không người lái tầm ngắn mà Iran đã phóng khắp khu vực.

Tuy nhiên, Iran - quốc gia đã được tiếp thêm sức mạnh và coi đối đầu lâu dài với Washington là điều không thể tránh khỏi -  cũng sẽ thích nghi với các động thái của Mỹ. Danny Citrinowicz, cựu chuyên gia phân tích về Iran thuộc cơ quan tình báo quân sự Israel cho biết, ông dự kiến Tehran sẽ đầu tư nhiều hơn vào các tên lửa tầm trung có khả năng tấn công Jordan và Israel. "Họ sẽ thay đổi cách xây dựng lực lượng. Họ sẽ tiếp tục các hoạt động tấn công,” ông nói.

Trong những năm gần đây, khi Mỹ tìm cách tách mình khỏi Trung Đông và tập trung lại vào Thái Bình Dương  nhu cầu duy trì một mạng lưới các căn cứ ở vùng Vịnh – vốn đóng vai trò là nơi tập kết và hậu cần cho binh sĩ – đã giảm bớt. Washington đã rút quân khỏi Syria vào tháng 4 năm 2026 và đang dần thu hẹp sự hiện diện trong cuộc chiến chống IS tại Iraq.

Stroul nói, "Chúng ta không còn cần những căn cứ này như trước nữa".

Nhiều chiến dịch ở Kuwait - nơi sự hiện diện của căn cứ Mỹ phản ánh những lo ngại an ninh của quốc gia này kể từ cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất -  đã hỗ trợ các hoạt động ở Syria lân cận và Iraq láng giềng.

Bất kỳ sự xem xét lại nào cũng sẽ ảnh hưởng đến số lượng binh sĩ đóng quân tại vùng Vịnh. Thông thường, có khoảng 35.000 người luân phiên đóng quân tại Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Bahrain, Qatar và Kuwait. Con số này có khả năng sẽ giảm xuống mức chưa từng thấy kể từ trước cuộc xâm lược Iraq năm 2003, ba cựu chiến lược gia quốc phòng Mỹ cho biết.

Nhưng cách tiếp cận như vậy sẽ buộc Washington phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan chiến lược: làm thế nào để thu hẹp dấu chân ở vùng Vịnh mà không khiến Iran trở nên táo bạo hơn hoặc làm các đồng minh Ả Rập lo ngại.

Hiệp ước "đổi dầu lấy an ninh" với các đồng minh khu vực đã phát triển qua nhiều thập kỷ và có một số quốc gia vùng Vịnh ngày càng nỗ lực đa dạng hóa quan hệ an ninh thay vì chỉ dựa vào Washington. Nhưng cuộc chiến Iran đã buộc tất cả các đồng minh phải suy ngẫm về những gì Mỹ cam kết đối với quốc phòng của họ.

Ông Brands của Johns Hopkins nói, "Đây là một tình huống mà các yêu cầu quân sự và ngoại giao đi theo những hướng trái ngược nhau. Bạn phải chống lại cảm giác rằng mình đang bỏ chạy."

Binh lính Mỹ ở tây bắc Kuwait.
Binh lính Mỹ ở tây bắc Kuwait. Khoảng 35.000 quân nhân Mỹ thường luân phiên qua Ả Rập Xê Út, UAE, Bahrain, Qatar và Kuwait cùng lúc © Yasser Zayyat/AFP/Getty Images

Bà Stroul cho biết cần có sự cân bằng tinh tế giữa yêu cầu tác chiến của Mỹ và cam kết của Washington đối với các đối tác, đồng thời lưu ý đến sự cần thiết phải đánh giá lại các khí tài và sự hiện diện của quân đội nhằm bảo đảm an ninh cho các quốc gia vùng Vịnh. ​​“Điều quan trọng là phải tránh tạo ra cảm giác rằng chúng ta đang bỏ rơi họ,” bà nói thêm.

Nhưng đằng sau tương lai bất định của các căn cứ quân sự Mỹ là một cảm giác ngày càng sâu sắc về sự bất ổn chiến lược mà sự bế tắc với Tehran đã tạo ra. Dấu chân quân sự của Mỹ ở vùng Vịnh bắt đầu xuất hiện trong những năm sau cuộc xâm lược Afghanistan của Liên Xô và lật đổ Quốc vương Iran năm 1979.

Vào tháng 1 năm 1980 Tổng thống Jimmy Carter đã phác thảo điều mà sau này được gọi là Học thuyết Carter: Washington sẽ không cho phép một quốc gia thù địch chiếm quyền kiểm soát vùng Vịnh và sẽ đẩy lùi nó bằng vũ lực. Tiếp theo đó là sự mở rộng quy mô to lớn các căn cứ thường trực của Mỹ sau khi Iraq thất bại trong cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất.

 Gregory Brew, một nhà sử học và là nhà phân tích tại Nhóm Á-Âu, cho biết, "Học thuyết Carter dường như đã sụp đổ" ; đồng thời cho biết có cảm giác Washington đã quay trở lại điểm xuất phát. Ông nói thêm, "Cách mạng Hồi giáo đã thúc đẩy Học thuyết Carter, và chính chiến tranh với Iran đã khiến nó sụp đổ".

Dường như chưa có một khái niệm chiến lược mới nào cho Trung Đông được đưa ra từ Tòa Bạch Ốc để định hướng cho các quan chức trong việc thực hiện một lộ trình phù hợp cho tương lai.

Brands nói: "Ngũ Giác đài sẽ lên kế hoạch và chuẩn bị cho cách Mỹ nên thay đổi tư thế. Nhưng sẽ rất khó để hành động một cách phù hợp với những kế hoạch đó vì đến một lúc nào đó các kế hoạch đó sẽ phải qua tay Tổng thống Trump."

Trump đã nhiều lần nói rằng ông không muốn được nhớ đến như Carter, người có nhiệm kỳ tổng thống bị chệch hướng bởi cuộc cách mạng tại Iran và vụ bắt giữ các con tin Mỹ tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran.

Citrinowicz nói, "Lịch sử thật trớ trêu khi thất bại chiến lược ở Iran cũng sẽ ám ảnh [Trump]. Ông chưa bao giờ muốn trở thành Carter và giờ đây  ông ta đang trở thành ông ấy."

Bản đồ của Ian Bott.
Bản đồ của Ian Bott.


--------------
_ Tác giả Jacob Judah tại London... .
_ Trần H Sa lược dịch từ  Financial Times..... 24/8/2026....