Sự kết thúc của Chủ nghĩa Ngoại lệ Mỹ ?

 

Ảnh đen mờ / Magnum
Ảnh đen mờ / Magnum

Tác giả Charles Kupchan ...Ngày 20 tháng 9 năm 2026.. The New York Times via Dnyuz.

Những ngày tháng của nước Mỹ như một quốc gia đặc biệt dường như đã kết thúc.

Ở trong nước, Tổng thống Donald Trump đang làm suy yếu nền tảng của chính phủ cộnhg hòa. Ở phần còn lại của thế giới, ông đã gác lại việc thúc đẩy dân chủ và dường như có xu hướng hợp tác với các chế độ độc tài như Trung QuốcNga, hơn là với các đồng minh dân chủ truyền thống của Mỹ.

Mặc dù cuộc tấn công của ông Trump vào nền dân chủ Mỹ là chưa từng có tiền lệ và nguy hiểm, ông ấy hoàn toàn đúng khi trì hoãn việc thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài và trì hoãn việc vượt qua ranh giới ý thức hệ. Cải thiện quan hệ với Trung Quốc, như ông Trump sẽ hướng tới tại hội nghị thượng đỉnh với lãnh đạo Tập Cận Bình vào thứ Năm tới, là điều bắt buộc trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau.

Không những cần một chủ nghĩa thực dụng để điều hướng thế giới ngày càng phân mảnh như hiện nay, mà chủ nghĩa thực dụng còn phù hợp với phần lớn lịch sử Hoa Kỳ. Từ thời kỳ lập quốc cho đến Thế chiến II, người Mỹ thường tập trung vào công việc của mình và để các dân tộc khác tự quyết định con đường của họ.

Ông Trump cũng nhìn nhận vấn đề theo cách đó, như chính quyền của ông đã trình bày trong Chiến lược An ninh Quốc gia 2025: "Chúng tôi tìm kiếm quan hệ tốt đẹp và quan hệ thương mại hòa bình với các quốc gia trên thế giới mà không áp đặt lên họ những thay đổi dân chủ hay xã hội, vốn khác biệt sâu sắc so với truyền thống và lịch sử của họ."

Tuy nhiên, việc ông Trump bác bỏ việc thúc đẩy dân chủ là một quan điểm sai lầm  và không phù hợp với lịch sử Hoa Kỳ ở một điểm quan trọng: Bằng cách làm suy yếu nền dân chủ của chính nước Mỹ và ủng hộ các nhà dân túy phi tự do ở các nền dân chủ khác, ông đang dập tắt sứ mệnh sáng lập của quốc gia là thay đổi thế giới bằng việc nêu gương. 

Quan điểm về tính ngoại lệ vốn định hướng nước Mỹ trong thời gian dài, đã đòi hỏi sự thực dụng trong chính sách đối ngoại, nhằm giúp người dân Mỹ có thể tập trung thúc đẩy công cuộc thử nghiệm dân chủ ngay tại trong nước. Những người định cư ở Tân Thế Giới mang trọng trách xây dựng một "thành phố trên đồi," như nhà lãnh đạo Tin Lành John Winthrop đã nói vào năm 1630, và cuối cùng đã thay đổi thế giới, nhưng chỉ bằng cách trở thành một hình mẩu dân chủ để người khác noi theo. Đây là phiên bản của nghệ thuật điều hành quốc gia của Hoa Kỳ cần được cấp bách khôi phục.

Chúng ta đang trong một cuộc chiến toàn cầu nhằm chinh phục tư tưởng và lòng người. Tương lai của chính phủ cộng hòa ở Hoa Kỳ và toàn cầu đang treo lơ lửng. Khi ông Trump vượt qua quyền lực hành pháp, biến Bộ Tư pháp thành vũ khí và cố gắng đe dọa truyền thông, khu vực tư nhân và các trường đại học; đó cũng là khi người dân Trung Quốc, Iran, Nga và các chế độ độc tài khác đang chứng kiến ngọn hải đăng dân chủ của Mỹ chập chờn. Sự chao đảo của mô hình thử nghiệm dân chủ ở Mỹ, cùng với sự thiên vị mà Washington dành cho các đảng cực hữu trên toàn thế giới (ngay cả trong một nước Đức bị ám ảnh bởi quá khứ phát xít), đang làm mờ đi những lý tưởng vốn đã truyền cảm hứng lâu dài cho các dân tộc bị áp bức, nỗ lực giành lấy phẩm giá và quyền tự chủ mà chỉ chính phủ cộng hòa (do dân bầu và ủng hộ)  mới có thể mang lại.

Hoa Kỳ đang lãng phí khả năng uốn cong lịch sử theo hướng tự do hơn.

Người Mỹ đã đã đón nhận một niềm tin mang tính sứ mệnh về dân chủ ngay từ đầu. Như Thomas Paine đã nói vào năm 1776, "Chúng ta có đủ khả năng để tái thiết thế giới." Nhưng trong hơn một thế kỷ tiếp theo, Hoa Kỳ tìm cách thúc đẩy sự lan rộng của chính phủ cộng hòa bằng cách làm gương thay vì can thiệp ở nước ngoài. Như John Quincy Adams, khi đó là Ngoại trưởng, đã phát biểu vào năm 1821, đất nước này sẽ thay đổi thế giới không phải bằng vũ lực mà bằng "sức mạnh từ tiếng nói và sự đồng cảm đầy thiện chí từ tấm gương của chính mình."

Cách tiếp cận kiên nhẫn này trong việc lan tỏa dân chủ là kết quả của ba cân nhắc chính. Thứ nhất, người Mỹ nhận thức sâu sắc về sự mong manh của mô hình tự quản mà họ đang thử nghiệm. Tổng thống George Washington đã cảnh báo rõ ràng trong Bài Diễn văn Chia tay năm 1796 rằng, tham vọng ở nước ngoài, bằng cách tập trung quyền lực và yêu cầu một quân đội quá lớn, có nguy cơ làm tổn hại đến tự do ở trong nước. Adams cũng lo ngại rằng các cuộc chiến tranh ở nước ngoài, ngay cả khi được tiến hành vì lý tưởng cộng hòa, có nguy cơ thay đổi "những nguyên tắc căn bản trong chính sách của đất nước ... từ tinh thần tự do đến việc xử dụng vũ lực," qua đó cám dỗ quốc gia trở thành kẻ "độc tài thống trị thế giới".

Thứ hai, các nhà lãnh đạo quốc gia tin rằng chính phủ cộng hòa phải hình thành một cách tự nhiên và không thể bị áp đặt từ bên ngoài. Vào những năm 1820, khi người Mỹ  quyết định không can thiệp vào Mỹ Latinh để hổ trợ  các quốc gia đó tách khỏi các đế chế châu Âu, Adams khẳng định rằng ông không thấy "có triển vọng nào để họ thành lập các thể chế chính phủ tự do hay mang tinh thần tự do" -  một quan điểm đã chiếm ưu thế trong nhiều thập kỷ sau đó.

Thứ ba, các nhà lãnh đạo Mỹ nhận thức được sự cần thiết phải ứng xử với thế giới như nó vốn có, chứ không phải theo cách họ mong muốn. Như Tổng thống James Monroe giải thích năm 1823, chính sách của Hoa Kỳ đối với các chế độ quân chủ châu Âu là "không can thiệp vào các mối quan tâm nội bộ của bất kỳ cường quốc nào; coi chính phủ trên thực tế là chính phủ hợp pháp đối với chúng ta; để vun đắp mối quan hệ thân thiện với họ."

Đến cuối thế kỷ XIX, phong cách quản trị thực dụng và chú trọng đến lợi ích thiết thực này đã mang lại kết quả ấn tượng trong nước; người Mỹ không chỉ giữ được nền cộng hòa của mình, mà còn biến nó thành một cường quốc thế giới. Kết quả ở nước ngoài khiêm tốn hơn; chỉ có một số ít quốc gia  đi theo con đường dân chủ tự do vào thời điểm chuyển giao thế kỷ. Nhưng như những người sáng lập đã hy vọng, thành công của thí nghiệm Mỹ đã tạo ra một tấm gương mà những người khác bắt đầu noi theo.

Bắt đầu từ năm 1898, quyền lực và tham vọng ngày càng tăng của Mỹ đã dụ dỗ nước này vào cái bẫy mà Adams đã cảnh báo: Những khát vọng lý tưởng của nước này bắt đầu vượt xa lợi ích chiến lược.

Tổng thống William McKinley phát động chiến tranh để trục xuất Tây Ban Nha khỏi Cuba và tiếp tục sáp nhập các thuộc địa Tây Ban Nha ở Caribe và Thái Bình Dương, khẳng định rằng ông đang hành động "vì sự nghiệp nhân loại." Chưa đầy hai thập kỷ sau, Tổng thống Woodrow Wilson đã ra lệnh một loạt can thiệp quân sự ở vùng Caribe và Mỹ Latinh, được cho là đã thề sẽ dạy "các nước cộng hòa Nam Mỹ bầu ra những người tốt." Ông cũng dẫn dắt quốc gia bước vào Thế chiến thứ nhất, tuyên bố rằng "thế giới phải được an toàn cho nền dân chủ."

Người Mỹ nhanh chóng chán nản với những nỗ lực tốn kém để xuất khẩu lý tưởng của họ. Việc sáp nhập các vùng lãnh thổ Tây Ban Nha đã biến quốc gia thành một đế chế thuộc địa; Hoa Kỳ trở thành kẻ chiếm đóng, chứ không phải người giải phóng. Và mặc dù đã giành chiến thắng trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, nhiều người Mỹ vẫn hối tiếc vì đã vướng vào các tranh chấp của Cựu thế giới, và Thượng viện Mỹ đã bác bỏ việc Hoa Kỳ tham gia Hội Quốc Liên - tổ chức do Wilson khởi xướng nhằm duy trì hòa bình sau chiến tranh. Đó là khởi đầu cho sự rút lui giữa hai cuộc thế chiến và từ bỏ những khát vọng lý tưởng để theo đuổi chủ nghĩa biệt lập cứng nhắc. Sau khi cố gắng làm quá nhiều, người Mỹ lại chọn cách làm quá ít.

Trong Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ cuối cùng đã đạt được sự cân bằng ổn định giữa lợi ích chiến lược và lý tưởng cao cả của mình. Để đối đầu với phe Trục, Washington gác lại những nghi ngại về ý thức hệ để liên minh với Liên Xô, nhưng sau khi đánh bại Đức Quốc xã và Đế quốc Nhật Bản, họ đã dân chủ hóa cả hai nước.
 
Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, Washington đã thiết lập các liên minh vững chắc với các nền dân chủ, đồng thời hợp tác với các chế độ độc tài khi cần thiết, để kềm chế chủ nghĩa cộng sản, dù đôi khi gây tổn hại cho các lý tưởng của mình. Tuy nhiên, phương Tây cuối cùng đã chiến thắng không phải bằng cách đánh bại Liên Xô trên chiến trường, mà bằng cách chứng minh sự vượt trội của các xã hội tự do và thị trường mở, kiên nhẫn chờ đợi khối Liên Xô sụp đổ từ bên trong. Phù hợp với ý định của các nhà sáng lập, Hoa Kỳ đã thay đổi thế giới bằng tấm gương.

Như đã từng xảy ra khoảng một thế kỷ trước, tham vọng mang tính lý tưởng của Mỹ lại bắt đầu vượt ra ngoài lợi ích chiến lược sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Chính quyền Clinton đã bắt đầu chiến lược "mở rộng dân chủ", với nhận định sai lầm khi cho rằng các quốc gia ở mọi nơi trên thế giới sẽ vội vàng chen chân vào trật tự toàn cầu được neo giữ bởi các giá trị cộng hòa. Đồng thời, sự chiến thắng của chủ nghĩa tư bản đã làm dấy lên niềm tin quá mức vào lợi ích của thị trường tự do không bị kiểm soát.

Những ảo tưởng mang tính lý tưởng này đã tạo ra một loạt thất bại lớn cho Hoa Kỳ. Sau sự kiện 11/9, các nhiệm vụ thay đổi chế độ ở Afghanistan, Iraq và Libya tiêu tốn hàng nghìn tỷ đô la và không mang lại nhiều lợi ích. Hoa Kỳ đã đưa Nga và Trung Quốc vào thị trường toàn cầu, với kỳ vọng rằng sự phát triển của tầng lớp trung lưu tại các nước này sẽ thúc đẩy quá trình tự do hóa chính trị và kềm chế các chính sách đối ngoại của họ. Không có chuyện gì như vậy xảy ra. Cả hai quốc gia đều trở nên độc đoán hơn và thù địch hơn với Hoa Kỳ.

Trong khi đó, sự kết hợp giữa tự động hóa và thương mại tự do đã làm suy yếu hợp đồng xã hội thời công nghiệp, khiến tầng lớp trung lưu và xu hướng chính trị trung dung tại các nền dân chủ phương Tây bị suy yếu nghiêm trọng. Ông Trump và nhiều nhà dân túy khác trên thế giới chỉ là triệu chứng, hơn là nguyên nhân của sự phẫn nộ chống lại giới tinh hoa cầm quyền. Nền dân chủ tự do đang suy thoái trên toàn thế giới, bao gồm cả nơi sinh ra của nó - Hoa Kỳ.

Chúng ta đã quay trở lại điểm xuất phát. Như trong thời kỳ lập quốc, nền dân chủ Mỹ đang bị đe dọa từ bên trong. Trong khi đó, các lý tưởng cộng hòa đang dần lùi bước; thế giới đang trở nên kém tự do hơn rõ rệt. Và vì việc quản lý một thế giới phụ thuộc lẫn nhau đòi hỏi sự hợp tác quốc tế rộng rãi, Hoa Kỳ một lần nữa cần phải ứng phó với thế giới theo đúng thực trạng của nó, thay vì theo viễn cảnh mà nước này mong muốn.

Trong hoàn cảnh này, ông Trump đúng khi rút lui khỏi sự thái quá chiến lược, tránh sa đà vào việc kiến ​​tạo quốc gia và chấm dứt những tham vọng ảo tưởng về việc lan tỏa dân chủ bằng cách lật đổ các chính phủ độc tài. Chắc chắn, ông Trump đã thất bại trong việc thực hành sự kềm chế mà ông ta rao giảng; ông đã xử dụng sự kết hợp giữa vũ lực và cưỡng ép kinh tế để cố gắng thay đổi các chế độ ở Venezuela, Iran và Cuba. Nhưng ít nhất ông đã hạ thấp mục tiêu, tìm cách dựng lên những chính quyền biết phục tùng thay vì những chính quyền dân chủ. Và  hy vọng thảm họa Iran của ông Trump sẽ củng cố sự thận trọng mà Washington nên thực hiện khi cố gắng thay đổi chế độ bằng vũ lực.

Ông Trump cũng đã đi đúng hướng khi tìm cách  hợp tác một cách thực dụng  với tất cả các quốc gia, bất kể loại hình chính phủ. Phải thừa nhận chính sách đối ngoại của ông ta là thất thường và bốc đồng. Nhưng sau nhiều thập kỷ lạm quyền về tư tưởng và chiến lược, nỗ lực của ông xây dựng mối quan hệ hợp tác tốt với Nga và Trung Quốc đã quá muộn. Sự hợp tác với các cường quốc này là cần thiết để đối phó với những lực lượng cạnh tranh nhau đang nhanh chóng làm rạn nứt một thế giới vốn có sự phụ thuộc lẫn nhau.

Nhưng khi đe dọa nền dân chủ trong nước và ủng hộ các nhà dân túy phi tự do ở nước ngoài, ông Trump đang làm tha hóa, chứ không phải là hồi sinh phiên bản nguyên thủy của chủ nghĩa đặc biệt Mỹ. Bằng cách gây nguy hiểm cho "thử nghiệm dân chủ" của nước Mỹ, và khuyến khích những người đồng hành cũng làm điều tương tự trong nền dân chủ của họ, ông Trump chắc chắn đang tạo ra một tiền lệ—nhưng đó là tiền lệ sẽ phủ bóng đen lên tiến trình lịch sử.

Người dân Mỹ phải khẩn cấp cứu lấy thử nghiệm dân chủ của mình. Khả năng làm được điều đó là rất quan trọng để đảo ngược làn sóng phi tự do đang gia tăng trên toàn cầu. Chỉ khi người Mỹ tự sắp xếp lại nền dân chủ của mình và chứng minh rằng dân chủ có thể vượt trội hơn chế độ độc tài, thì họ mới có thể bảo đảm lịch sử lại nghiêng về tự do hơn.

----------------
_ Tác giả Charles Kupchan là giáo sư về các vấn đề quốc tế tại Đại học Georgetown.
_ Trần H Sa lược dịch từ The New York Timesvia Dnyuz....20/9/2026

(Bài viết Kết thúc Chủ nghĩa Ngoại lệ Mỹ? xuất hiện đầu tiên trên New York Times.).