Mỹ đấu với Iran: Trận chiến ý chí ở vùng Vịnh.
Cuộc chiến Iran đã gây ra đau đớn kinh tế nghiêm trọng cho Iran và áp lực chính trị lên Hoa Kỳ sau sáu tháng. Trong khi Mỹ dựa vào các lệnh trừng phạt và phong tỏa hải quân, lãnh đạo Iran vẫn kiên cường, ưu tiên trả đũa thay vì lo cứu trợ kinh tế cho người dân. Tình trạng bế tắc của cuộc xung đột cho thấy không có giải pháp ngay lập tức, kéo dài sự đau khổ ở Iran và căng thẳng chính trị ở Mỹ.

Via Shutterstock.
Tác giả Gary Grappo... Ngày 10 tháng 9 năm 2026....Fair Observer.
Nó bắt đầu như một trận chiến quân sự ác liệt, khiến hơn một nghìn người Iran thiệt mạng và hàng tỷ đô la thiệt hại cho nền kinh tế, cơ sở hạ tầng quân sự và toàn bộ hệ thống của Iran, cũng như cơ sở hạ tầng của các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh. Mỹ đã mất 18 quân nhân, cùng với khoảng 600–750 người bị thương, và các cơ sở quân sự của Mỹ trên khắp khu vực vùng Vịnh và Jordan bị thiệt hại hoặc bị phá hủy nghiêm trọng . Nhưng sau sáu tháng, Chiến tranh Iran đã trở thành cuộc chiến trên mặt ý chí giữa hai đối thủ chính của cuộc chiến, Mỹ và Iran.
Ai là người chịu thiệt thòi?
Đối với Mỹ, áp lực chủ yếu là chính trị. Chi phí ngân sách và sự tăng nhẹ giá xăng là những hình phạt kinh tế duy nhất. Chi phí chính trị đối với Tổng thống Donald Trump và đảng của ông có thể nghiêm trọng hơn, với các cuộc thăm dò cho thấy sự ủng hộ dành cho ông giảm xuống chỉ còn 26%. Điều này sẽ được thể hiện chính xác trong cuộc bầu cử giữa kỳ tháng 11 theo cách nào vẫn chưa rõ, nhưng nhiều người trong đảng của ông rất lo lắng khi quyền kiểm soát của Đảng Cộng hòa đối với cả Hạ viện và Thượng viện đang bị đe dọa. Người Mỹ nổi tiếng với việc bỏ phiếu loại trừ đảng nào dẫn đất nước vào một cuộc chiến không được lòng dân. Hội đồng Các vấn đề Toàn cầu Chicago báo cáo rằng sự không đồng tình với cuộc chiến hiện đã lên tới 70%.
Tuy nhiên, đối với Iran, nỗi đau hoàn toàn là kinh tế. Không còn gì phải bàn cãi về mức độ thiệt hại đối với nền kinh tế của quốc gia này, vốn đã chịu một đợt tấn công nặng nề từ cả máy bay lẫn tên lửa của Mỹ và Israel. Do thiệt hại về cơ sở hạ tầng và lệnh phong tỏa của Mỹ đang diễn ra, xuất khẩu dầu của Iran đã giảm xuống mức nhỏ giọt, chỉ 65.000 thùng mỗi ngày theo một ước tính. GDP của nước này dự kiến sẽ giảm 5,5% trong năm nay, chắc chắn là một cuộc suy thoái, nhưng so với mức mà hầu hết các nhà kinh tế định nghĩa là suy thoái, thì nó mới chỉ bằng một nửa. Đồng đô la Mỹ hiện có giá trị 1 usd tương đương hai triệu rial, dự kiến đồng rial sẽ tiếp tục giảm khi nền kinh tế nói chung suy giảm. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo lạm phát của quốc gia này trong năm nay sẽ vượt quá 70%. Chỉ số Khốn khổ của quốc gia, bao gồm lạm phát cộng với tỷ lệ thất nghiệp, sẽ vượt quá 90%.
Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian gần đây đã cảnh báo người Iran rằng, hậu quả tích tụ từ chiến tranh, các lệnh trừng phạt liên tục của Mỹ và phong tỏa hải quân đang gây thiệt hại nặng nề cho quốc gia này. Nhập khẩu và xuất khẩu đã giảm 35%, không có dấu hiệu giảm bớt. Người Iran không cần nghe điều đó cũng biết cái giá của cuộc chiến đối với họ. Giá thực phẩm đã tăng vọt, với thịt và sữa tăng 90%, khiến những mặt hàng này và các mặt hàng khác trở nên khó tiếp cận với phần lớn dân cư. Tỷ lệ nghèo đói ở Iran hiện đã lên tới 36%.
Trong suốt 30 năm qua, các cuộc chiến của Mỹ ở khu vực, "đồng hồ" của Mỹ luôn chạy nhanh hơn so với các đối thủ; tức là, áp lực chính trị lên Mỹ để đạt được nghị quyết lớn hơn nhiều so với các đối thủ phải gánh chịu. Tuy nhiên, cuộc chiến này có thể là ngoại lệ, với điều kiện Donald Trump đủ kiên nhẫn chờ đợi kết cục cuối cùng.
Bảng cân đối kế toán của cuộc chiến sau sáu tháng, dường như nghiêng hẳn về phía Mỹ. Tuy nhiên, lãnh đạo Iran vẫn luôn cam kết đạt được các mục tiêu chiến tranh: áp đặt phí lên tàu đi qua eo biển Hormuz, đòi Mỹ trả tiền bồi thường chiến tranh (ít nhất 300 tỷ đô la), di dời tất cả các căn cứ của Mỹ ra khỏi khu vực, chấm dứt ngay lập tức và vĩnh viễn mọi hoạt động quân sự bao gồm cả ở Lebanon, và chấm dứt ngay lập tức phong tỏa của Mỹ.
Các lệnh trừng phạt mới nhất của Mỹ gây tổn thương nhưng chưa đủ.
Vào cuối tháng 8, nước Mỹ đã tăng cường nỗi đau kinh tế lên Iran với tuyên bố của Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent về "Chiến dịch Cô lập Kinh Tế." Ông ví nó như một "Ngày D-Day kinh tế," bỏ qua thực tế rằng cuộc đổ bộ Normandy năm 1944 của các đồng minh trong lịch sử có sự tham gia của hàng chục đồng minh Mỹ. Bessent không đề cập đến việc các quốc gia khác tham gia các lệnh tăng cường trừng phạt Iran của Mỹ. Đó là một thiếu sót lớn của kế hoạch và sẽ khiến tác động của nó ít hơn nhiều so với những gì Trump và Bessent đã quảng bá.
Các biện pháp trừng phạt hiệu quả nhất khi có nhiều quốc gia ký kết, như trường hợp các lệnh trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc áp đặt lên Nam Phi thời kỳ phân biệt chủng tộc, Iraq dưới thời Saddam Hussein, và Iran trước Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung (JCPOA). Các lệnh trừng phạt bổ sung của chính quyền Mỹ sẽ gây áp lực lớn hơn lên Iran, nhưng Cộng hòa Hồi giáo đã trở thành bậc thầy trong việc né tránh, với nhiều kế hoạch né tránh từ năm 1979.
Hơn nữa, thông báo của Bessent không tiến xa đến mức áp đặt các biện pháp trừng phạt thứ cấp một cách toàn diện. Đây là các biện pháp trừng phạt áp đặt lên doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức kinh doanh với các quốc gia hoặc doanh nghiệp bị trừng phạt, ngay cả khi họ không có liên hệ với Hoa Kỳ. Hiệu quả nhất trong số đó là đối với các nhà khai thác Trung Quốc nhập khẩu dầu Iran bị trừng phạt, và các ngân hàng của bên thứ ba quản lý các giao dịch tài chính của họ. Thực tế, những doanh nghiệp này đã chịu trách nhiệm mua 90% lượng dầu xuất nhập khẩu của Iran trước khi Mỹ áp đặt phong tỏa. Bessent dường như ngần ngại làm xáo trộn sự hòa hoãn kinh tế Mỹ-Trung hiện đang được thiết lập. Vì vậy, nếu không có các lệnh trừng phạt thứ cấp toàn diện đó, đừng mong đợi người Iran sẽ chịu nhiều hơn những gì họ đã trải qua.
Điều này cho thấy kho vũ khí kinh tế của Mỹ, dù rất mạnh mẽ, có thể đang đối mặt với những thách thức tương tự như vũ khí quân sự đối với Iran. Kho đạn dược cạn kiệt của Mỹ đã trở thành trở ngại cho các hành động quân sự tiếp tục chống lại Iran. Thực tế, Mỹ đang cạn kiệt lựa chọn. Trump đã chọn con đường duy nhất dành cho mình: tiếp tục áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế như hiện tại và phong tỏa hải quân, điều này có thể gây thiệt hại lớn hơn về lâu dài.
Iran tin vào luận điệu của chính mình.
Điều này không nhất thiết đồng nghĩa với chiến thắng cho Iran. Nó vẫn phải xây dựng lại cơ sở hạ tầng quốc gia và điều chỉnh nền kinh tế. Để làm được điều đó, cần một nguồn vốn to lớn của nước ngoài. Dưới các lệnh trừng phạt hiện tại, điều đó là không thể. Họ sẽ cần Mỹ và các quốc gia trừng phạt quan trọng khác như EU nới lỏng các lệnh trừng phạt này.
Ngoại trừ những đợt leo thang căng thẳng quân sự mang tính nhất thời, áp lực lên thị trường dầu mỏ toàn cầu dường như đang giảm bớt. Mỗi tuần, ngày càng nhiều nhà sản xuất dầu Ả Rập ở vùng Vịnh xuất khẩu nhiều dầu hơn, hiện vượt 40% mức trước chiến tranh, xử dụng các tuyến đường thay thế, vượt qua phong tỏa của Iran hoặc đi dưới sự hộ tống của hải quân Mỹ. Hơn nữa, người tiêu dùng và nhà sản xuất đang thích nghi với tình hình mới. Các nhà sản xuất khác đang tăng cường sản xuất, và người tiêu dùng đang điều chỉnh thói quen tiêu dùng và chuyển sang xử dụng nhiên liệu thay thế. Iran càng trì hoãn việc đạt được thỏa thuận với Mỹ, thì đòn bẩy dầu mỏ hiện tại của Iran càng kém hiệu quả. Có lẽ họ đã tiến gần đến thời điểm mà Eo biển Hormuz chỉ còn là một công cụ gây sức ép yếu ớt mà thôi.
Nếu không có việc nới lỏng các lệnh trừng phạt và dỡ bỏ phong tỏa của Mỹ, tình hình không thể thực sự cải thiện cho Iran và nền kinh tế của họ, và quan trọng nhất là cho người dân Iran. Điều đó chỉ có thể xảy ra nếu Iran và Mỹ quay lại đàm phán nghiêm túc. Bản Ghi nhớ Thỏa thuận được đồng thuận vào tháng 6 đã cung cấp cho Iran tất cả những điều đó, và quyền tiếp cận một phần trong số 100 tỷ đô la tài sản bị đóng băng đang được giữ tại các ngân hàng nước ngoài. Nhưng để đưa vấn đề trở lại đúng hướng, Iran sẽ phải từ bỏ chương trình thu phí ở eo biển Hormuz và chấp nhận các cuộc đàm phán nghiêm túc về việc hạn chế chương trình vũ khí hạt nhân của mình.
Cộng hòa Hồi giáo vẫn kiên quyết không làm điều đó. Họ không muốn "ban ân huệ" cho Donald Trump bằng cách nhượng bộ các yêu cầu của ông, nhất là khi cuộc bầu cử giữa kỳ ở Mỹ chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa.
Một mô hình ám ảnh.
Điều này phản ảnh một mô hình ám ảnh về việc trả đũa của Iran, vốn bắt nguồn từ năm 1953. Thủ tướng Iran khi đó Mohhamed Mossadegh không thể đạt được thỏa hiệp với chính phủ Anh về việc quốc hữu hóa Công ty Dầu khí Anh-Iran. Những nỗ lực liên tục của Mỹ và các bên khác, bao gồm IMF/Ngân hàng Thế giới, cũng không thành công. Trong bản tóm tắt bàn giao quyền lực cho người kế nhiệm Dwight Eisenhower, Tổng thống Mỹ Harry Truman đã nhận định: "Người Iran dường như quá chú tâm vào việc làm bẽ mặt người Anh, hơn là giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế đang ngày càng trầm trọng tại đất nước họ." Eisenhower cũng không thể đưa phía Anh và Iran ngồi vào bàn đàm phán, khiến tình hình kinh tế càng thêm tồi tệ. Người Mỹ, bị Anh thúc ép và lo sợ sự sụp đổ của chính phủ cũng như tình trạng hỗn loạn chính trị ở quốc gia quan trọng nhất tại Trung Đông lúc bấy giờ, đã quyết định tự mình giải quyết. Họ phát động Chiến dịch TPAJAX (mật danh của cuộc đảo chính quân sự bí mật năm 1953 tại Iran) nhằm lật đổ chính phủ Mossadegh, thay thế ông này bằng một thủ tướng hợp tác hơn với Mỹ, và tái khẳng định quyền lực của Shah (Quốc vương).
Sau đó, giữa cao trào cuộc Cách mạng Hồi giáo, ban lãnh đạo Iran dường như lại sa đà vào việc tìm kiếm sự trả thù, lần này chống lại Shah bị phế truất, và Tổng thống Mỹ lúc đó là Jimmy Carter. Bất chấp yêu cầu của cộng đồng quốc tế về việc thả 52 người Mỹ bị giam giữ bất hợp pháp, cũng như việc phải hứng chịu sự lên án, các lệnh trừng phạt của quốc tế và sự sụt giảm nghiêm trọng trong xuất khẩu dầu mỏ, giới lãnh đạo cách mạng vẫn kiên quyết không thả con tin. Hành động này dường như xuất phát từ sự hằn học đối với quyết định của ông Carter khi cho phép vị Shah nhập cảnh vào Mỹ để chữa bệnh. Vô số nỗ lực ngoại giao và các kênh liên lạc bí mật từ chính quyền Carter cũng như đặc phái viên của các quốc gia khác đều thất bại trong việc thuyết phục giới lãnh đạo Iran vốn rất cứng đầu. Phía Iran chỉ chịu thả các con tin sau khi ông Carter thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1980 và người chiến thắng là Ronald Reagan đã chính thức nhậm chức.
Sau hơn hai năm diễn ra cuộc chiến tranh đẫm máu Iran-Iraq bắt đầu vào năm 1980. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UNSC) đã đề xuất Nghị quyết 540 nhằm chấm dứt chiến tranh, và Iraq đã chấp nhận nghị quyết này nhưng Iran từ chối, khăng khăng rằng Iraq phải bị đổ lỗi cho cuộc xâm lược. Cuộc chiến kéo dài thêm gần sáu năm nữa, cướp đi sinh mạng của khoảng 1,2 triệu người Iran và Iraq (hoặc có thể nhiều hơn), gây thiệt hại khôn lường cho nền kinh tế của cả hai quốc gia. Sau những thất bại quân sự nghiêm trọng và sự tàn phá kinh tế lớn hơn, Iran cuối cùng đã chấp nhận nghị quyết UNSC 598 vào năm 1988, với các điều kiện gần như giống như năm 1983.
Giờ đây, có vẻ như lãnh đạo Iran lại ám ảnh bởi việc phải tỏ ra không nhượng bộ, ngay cả khi điều đó đi ngược lại lợi ích của chính nền kinh tế và người dân nước mình. Họ mang trong lòng một sự bất mãn; tên của nó là Donald Trump. Sự oán giận lần này bắt nguồn từ việc Mỹ phát động chiến tranh ngay từ đầu, việc họ giết chết Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei và xóa sổ nhiều thành viên gia đình của người hiện đang kế nhiệm ông cố lãnh tụ. Giới lãnh đạo cứng rắn hiện tại của Iran dường như bị thôi thúc mạnh mẽ bởi ý định trả thù.
Trump không rời nhiệm sở cho đến tháng 1 năm 2029, đây là một khoảng thời gian dài đến mức khó tin để Iran có thể gồng mình chịu đựng những khó khăn kinh tế hiện tại cũng như nỗi thống khổ của người dân. Trong cuộc bầu cử sắp tới, ông Trump đang định hướng dư luận rằng cuộc bầu cử này xoay quanh cá nhân ông, mặc dù tên ông không có trên lá phiếu. Cử tri thực sự có thể sẽ chiều theo ý ông và quay lưng lại với các ứng cử viên thuộc đảng của tổng thống. Liệu điều đó có đủ để xoa dịu giới lãnh đạo Iran hay không?
Donald Trump đang thể hiện sự kiên nhẫn hiếm thấy, dường như hài lòng với việc chờ đợi Iran khuất phục thông qua các biện pháp trừng phạt và phong tỏa. Các lãnh đạo Iran vẫn cứng đầu, không muốn sửa đổi những "yêu sách" của họ đặt ra với Mỹ.
Sự kiên nhẫn bất thường của vị lãnh đạo phía bên này kết hợp với nỗi ám ảnh muốn chứng minh mình đúng của vị lãnh đạo phía bên kia, đồng nghĩa với việc người dân cả hai nước khó có thể sớm thấy được hồi kết cho cuộc xung đột này.
-----------------------
_ Tác giả Gary Grappo... | Kaitlyn Diana đã biên tập bài viết này.
_ Trần H Sa lược dịch từ Fair Observer.....Ngày 13 tháng 9 năm 2026....